Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

Từ câu chuyện của châu Phi

Cuối tuần qua, hai buổi nói chuyện của PGS. N’Goné Fall (Trưởng Khoa Công nghiệp sáng tạo, Đại học Senghor, Ai Cập) về những giấc mơ liên lục địa châu Phi đã thu hút sự quan tâm đến nghe của gần một trăm khán giả. Không chỉ là nghệ thuật, phải chăng họ bị cuốn hút bởi ý niệm về một châu lục còn khá xa lạ với Việt Nam?

PGS. N’Goné Fall say sưa trình bày 

XÓA BỎ NHỮNG MẶC ĐỊNH
Là một kiến trúc sư, nhà phê bình nghệ thuật và một nhà giám tuyển chuyên nghiệp, PGS. N’Goné Fall cho thấy sự tinh tế của mình khi mở đầu buổi nói chuyện bằng một lời đính chính nhẹ nhàng rằng châu Phi đang được hiểu bởi những suy nghĩ khá xa rời với hiện thực mà nó đang tồn tại. Điều này cũng giống như việc hiện nay đôi khi nhiều người dân ở một số nơi trên thế giới vẫn cho rằng Việt Nam là nước đang còn xảy ra chiến tranh. Đó đôi phần là do lỗi của truyền thông nhưng người tiếp nhận cũng không phải hoàn toàn vô can. Nếu chịu khó để tâm tìm hiểu, chúng ta sẽ có thể thu thập được những kiến thức sát với hiện thực, và cảm thấy thú vị về những hiểu biết mang tính chất khám phá độc lập này. Quả thực, một châu Phi hiện ra sinh động với một không gian lịch sử, địa lý và chính trị của nó qua những câu chuyện chia sẻ của PGS. N’Goné Fall. Từ những chia sẻ này, như một phần mục đích của PGS. N’Goné Fall, bà muốn dẫn người nghe đến với một nhận thức mới về châu Phi qua góc nhìn văn hóa nghệ thuật.
Đi sâu giới thiệu về nền văn hóa nghệ thuật đương đại của châu Phi, PGS. N’Goné Fall cho thấy giấc mơ về một lục địa hòa hợp. Ngoại trừ Ethiopia, 54 quốc gia ở châu Phi đều chịu sự đô hộ thuộc địa bởi các đế chế thực dân. Chính việc trải qua sự chia cắt địa lý này đã khiến cho giới nghệ sỹ các nước này nghĩ đến việc dùng văn hóa nghệ thuật như một công cụ để xây dựng đất nước cũng như nền tảng gắn bó lục địa. Nhiều trí thức đã và đang vận dụng lý tưởng vì một Liên lục địa Châu Phi hòa hợp trong các sáng tác nghệ thuật của họ. Đó là “một nơi chốn thương thảo giữa các nền văn hóa đa dạng và phức tạp”, PGS. N’Goné Fall cảm động nói.

Toàn cảnh buổi nói chuyện của PGS. N’Goné Fall 

LIÊN HỆ VIỆT NAM
Trong buổi nói chuyện thứ hai, PGS. N’Goné Fall chia sẻ những vốn liếng cũng như những thách thức của nghệ thuật đương đại Châu Phi. Bà cho rằng văn hóa lục địa này luôn phải đối mặt với những quan niệm rập khuôn về “đặc tính châu Phi”. Tréo ngoe ở chỗ, quan niệm này lại là thứ bị định chế từ bên ngoài, nhất là dưới cái nhìn phương Tây. Chỉ dẫn một loạt ví dụ về các công trình của những nghệ sỹ đến từ nhiều quốc gia ở Châu Phi, PGS. N’Goné Fall cho rằng các dự án của các nghệ sỹ này mang tính cập nhật, dịch chuyển và đương thời chứ không gò bó trong ranh giới của chủ nghĩa hiện đại.


Một khán giả đặt câu hỏi trao đổi cùng PGS. N’Goné Fall

Tự nhận là thuần thục tiếng Senegal và tiếng Pháp hơn, PGS. N’Goné Fall cho rằng tiếng Anh của bà là ngôn ngữ thứ ba, thế nên bà lo ngại chưa thể diễn đạt hết những ý tưởng mà mình mong muốn chia sẻ. Thế nhưng, sự hiện diện của khán giả trong buổi nói chuyện thứ hai đã làm tan biến sự lo ngại của PGS. N’Goné Fall (bà diễn thuyết trong hai buổi tối cuối tuần). Khán phòng Marie Curie (Đại học Hoa Sen) vẫn gần như kín người nghe trong buổi thứ hai. Ngoài những khán giả đến nghe từ buổi trước, còn có sự tham gia của nhiều gương mặt mới. Nó cho thấy sức lôi cuốn của chương trình khơi nguồn trí thức này (chương trình nằm trong dự án liên ngành mang tên “Nhận thức Thực tại” do Mạng lưới Quỹ Hoàng tử Claus với Sàn Art tài trợ). Vậy đâu là lý do cho sự cuốn hút đó? Phải chăng là từ những nhận thức mới mẻ này, những khán giả đang chăm chú kia đã có những liên hệ của riêng mình dành cho nước Việt? Cùng chờ đón nghệ thuật nước nhà với những tín hiệu vui từ những buổi nói chuyện khơi nguồn trí thức như vậy.

Bài và ảnh: Xuân Tiến

Bài viết đã đăng trên trang Văn hóa Báo Công an TP.HCM, Website Hương Quê Nhà...

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

Trò chuyện cùng thanh niên là vô cùng quan trọng

Đó là khẳng định của bà Tôn Nữ Thị Ninh – nhà ngoại giao kỳ cựu, nhà hoạt động xã hội – văn hóa và giáo dục trong buổi ra mắt cuốn sách đầu tay của bà, cuốn “Tư duy và chia sẻ”.

Khán phòng của Nhà xuất bản (NXB) Trẻ sáng ngày 7/3/2015 chật kín độc giả mà đa phần là giới sinh viên và trí thức nhiều thế hệ. Một sự không lường trước của Ban tổ chức nhưng là tín hiệu vui cho thấy sự quan tâm của độc giả về cuốn sách. Tại buổi giao lưu, bà Tôn Nữ Thị Ninh đã có những trao đổi thẳng thắn về các công tác để tạo điều kiện cho người trẻ thể hiện và đóng góp sức trẻ cho thời cuộc, cho đất nước. Muốn thế, cần sự chung tay của xã hội. Đừng quá đặt nặng lên vai lớp trẻ bằng những mỹ từ đao to búa lớn. Hãy trò chuyện cùng họ, san sẻ cùng họ những khó khăn vướng mắc, tạo cơ hội để họ tư duy và chia sẻ tư duy. Bà nhấn mạnh: “Trò chuyện cùng thanh niên là vô cùng quan trọng. Tôi thấy cần phải tin vào thanh niên và động viên họ. Tôi đã gặp rất nhiều thanh niên với rất nhiều câu hỏi trăn trở về đất nước, về xã hội, họ muốn những cái gì cao hơn, đẹp hơn, sâu sắc hơn”.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh chia sẻ tại buổi giao lưu (ảnh: Xuân Tiến)

Quả thật, không chỉ đơn thuần là một buổi ra mắt sách, buổi giao lưu đã thật sự là cơ hội để các bạn trẻ cùng bàn tròn nghị luận về các vấn đề mà họ quan tâm, và được bà Tôn Nữ Thị Ninh đồng cảm, chia sẻ. Khi đề cập đến vấn đề Việt Nam đang chuẩn bị tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN - AEC với rất nhiều nguy cơ lẫn cơ hội, bà Tôn Nữ Thị Ninh khuyên các bạn trẻ đừng xem thường, hãy quan tâm nhiều hơn đến văn hóa và ngôn ngữ của các nước trong khu vực, hãy học bất cứ thứ tiếng nào đó của các nước trong khối ASEAN cho dù là Thái, Indonesia hay là Lào, Campuchia.

Là tập hợp những bài viết của bà Tôn Nữ Thị Ninh cũng như nhiều bài viết của các tác giả, nhà báo về bà, cuốn “Tư duy và chia sẻ” là những suy nghĩ sắc sảo về các vấn đề thời cuộc của chính tác giả trong quá trình hoạt động ngoại giao trước đây và khi ở cương vị một nhà hoạt động văn hóa, xã hội, giáo dục hiện tại. Qua những ý kiến đó, bà mong muốn đối thoại, chia sẻ với thế hệ trẻ, những người mang trọng trách làm chủ vận mệnh đất nước và trước tiên là làm chủ cuộc đời của chính họ. Trả lời chúng tôi về tâm ý của mình đối với cuốn sách đầu tay, bà Tôn Nữ Thị Ninh nói: “Bạn đã thỏa hiệp như thế nào với cuộc đời? Đã trăn trở ra sao với những cơ hội lớn, thách thức lớn khi nó bất ngờ đến với bạn? Chính là cuộc sống thôi thúc chúng ta phải tư duy. Và đồng hành với tư duy là sự chia sẻ. Chia sẻ để đi đến đồng thuận, để hiểu nhau hơn, để tìm ra những giải pháp, những lời giải cho những khó khăn, thách thức. Cuốn sách của tôi có tên “Tư duy và chia sẻ” là vì thế”.  

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Minh Nhật (Giám đốc NXB Trẻ) bày tỏ kỳ vọng về sức lan tỏa của cuốn sách đối với độc giả gần xa, đặc biệt là các độc giả trẻ. Ông Nguyễn Minh Nhật cho biết thêm, bà Tôn Nữ Thị Ninh không xem đây là cuốn tự truyện mà là để truyền đi “một dòng chảy xuất hiện từ những ngày còn ngồi ở ghế nhà trường và lớn dần qua các giai đoạn của cuộc hành trình, là động lực thôi thúc tôi luôn tư duy và chia sẻ. Tư duy để nâng tầm kiến thức, nhãn quan và biết cách chia sẻ kiến thức đến mọi người là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt cuộc đời và sự nghiệp của bà Tôn Nữ Thị Ninh”. Ngoài ta, sách còn có kèm DVD ghi lại những cuộc trò chuyện, phát biểu, phỏng vấn của bà trong nước và quốc tế, là một quà tặng cho bạn đọc.
Bài và ảnh: Xuân Tiến


Bài viết đã đăng trên trang Văn hóa Báo Công an TP.HCM, Website Hương Quê Nhà, Website CLB Người yêusách...

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

Trường đại học Việt Nam đầu tiên mở Khoa Hàn Quốc học

Sáng nay (10/3/2015), Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM sẽ tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập Khoa Hàn Quốc học tại cơ sở Đinh Tiên Hoàng, Q.1. Đến tham dự buổi lễ, ngoài Ban giám hiệu nhà trường, dự kiến còn có đại diện Tổng lãnh sự quán Hàn Quốc tại TP.HCM, Quỹ Giao lưu Quốc tế Hàn Quốc, Viện Nghiên cứu Trung ương Hàn Quốc, Vụ Chấn hưng Hàn Quốc học và đại diện lãnh đạo các tổ chức chính phủ Hàn Quốc tại TP.HCM.
Tháng 6/1994, chỉ một năm rưỡi sau khi ký kết quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và Hàn Quốc, ngành Hàn Quốc học đã bắt đầu được đào tạo ở Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM (lúc đó thuộc ĐH Tổng hợp TP.HCM). Năm 2010, Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH&NV ký quyết định tách Bộ môn Hàn Quốc học ra khỏi Khoa Đông phương học thành Bộ môn trực thuộc trường. Qua 21 năm, đến nay, ngành Hàn Quốc học đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu có ý nghĩa trong đào tạo và nghiên cứu Hàn Quốc học. Ngày 20/1/2015, Giám đốc ĐHQG TP.HCM đã ký Quyết định nâng cấp Bộ môn Hàn Quốc học thành Khoa Hàn Quốc học. Các tổ chức chính phủ Hàn Quốc đánh giá việc thành lập Khoa Hàn Quốc học ở Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG TP.HCM là một dấu mốc quan trọng trong sự trưởng thành ngành Hàn Quốc học, không chỉ của nhà trường mà còn là của Việt Nam, của khu vực nói chung. Quỹ phát triển Hàn Quốc học (KSPS), đơn vị tài trợ cho việc thành lập khoa Hàn Quốc học tại trường đại học này, cho biết đây là trường đại học nước ngoài đầu tiên trên thế giới có khoa Hàn Quốc học. Tổ chức này kỳ vọng rằng sự kiện trên sẽ góp phần nâng cao vị thế của ngành Hàn Quốc học cũng như góp phần vào những nghiên cứu nâng cao về đất nước và con người Hàn Quốc.
Vào chiều nay, cũng nằm trong chuỗi sự kiện chào mừng Khoa Hàn Quốc học, Korea Foundation và Viện Nghiên cứu Trung ương Hàn Quốc phối hợp cùng với Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM tổ chức chuỗi bài giảng của các học giả - chính khách cao cấp Hàn Quốc về các đề tài xã hội - chính trị, kinh tế của Hàn Quốc đương đại cho sinh viên các ngành Tiếng Hàn và Hàn Quốc học của các trường đại học và cao đẳng phía Nam. Chuỗi bài giảng sẽ được diễn ra tại cơ sở 1 (số 10-12 Đinh Tiên Hoàng, Q.1) với sự tham gia của các diễn giả: GS.TS. Chun Taeck-Soo (Vụ trưởng KSPS) trình bày chuyên đề “Kinh tế Hàn Quốc”; TS. Hyun-seok Yu (Chủ tịch Korea Foundation) trình bày chuyên đề “Ứng dụng mang tính kinh tế xã hội của Hàn Quốc học”…

Xuân Tiến

Bài viết đã đăng trên Trang Văn hóa Báo Công an TP.HCM số ra ngày 10/3/2015, Baomoi.com...

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Một dấu hiệu của sự bất bình đẳng giới

Khi nào còn tổ chức rầm rộ các hoạt động mang tính hình thức là khi đó sự bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại.

Được Liên Hiệp Quốc chính thức hóa kể từ năm 1977, ngày 8/3 hằng năm được cộng đồng quốc tế xem là Ngày Liên Hiệp Quốc vì Nữ quyền và Hòa bình Quốc tế (gọi tắt là Ngày Quốc tế Phụ nữ). Tại một số nơi, nó cũng được xem tương đương với Ngày của Mẹ (Mother's Day). Đây là thành quả đấu tranh lâu dài, gian khó và lặng lẽ của hàng triệu phụ nữ trên thế giới.

Thực tế là, hơn một thế kỷ qua, nữ giới đã giành được sự bình đẳng trước pháp luật trong hầu hết các lĩnh vực và ở hầu hết các nước trên thế giới. Thế nên, vào ngày này, phụ nữ châu Âu và Bắc Mỹ thường từ chối nhận hoa, vì xem đó là một dấu hiệu không bình đẳng và chỉ có tính hình thức. Một số người quen của mình đã từng có cơ hội du học hoặc du lịch nước ngoài về cũng kể rằng, ở những nước mà họ đến, ngày 8/3 không còn được dư luận, đặc biệt là giới nữ, chú ý đến. Vì một lẽ giản đơn là ở nước người ta, việc bình đẳng giới đã trở thành hiện thực. Phụ nữ không cần đợi đến ngày 8/3 mới được quan tâm, tôn vinh và ngợi ca.

Trong khi đó, ở Việt Nam ta, vào ngày này, phái nam thường tặng hoa, tặng quà cho phụ nữ và xem đây là cơ hội để biểu thị tình cảm của mình dành cho một nửa còn lại của thế giới. Không khỏi ngạc nhiên trước những câu viết tràn ngập trên các mặt báo, đại loại như: “trong 365 ngày của một năm, phụ nữ có riêng một ngày để được xã hội quan tâm và bù đắp những thiệt thòi, vất vả trong cuộc sống”. Các câu hỏi liên tiếp đặt ra là, tại sao người phụ nữ lại không được quan tâm trong tất cả 365 ngày trong một năm? Tại sao nam giới không thể hiện sự chăm sóc yêu thương cho người phụ nữ mà họ yêu quý trong tất cả 365 ngày trong một năm? Tại sao không tạo dựng sự công bình cho phụ nữ mà cứ đợi đến ngày 8/3 để “bù đắp cho những vất vả của những người mẹ tảo tần cho gia đình và xã hội, những người vợ đảm đang, vun vén dựng xây tổ ấm gia đình”?

Đặc biệt hơn, các hoạt động hướng đến ngày 8/3 cũng được khắp nơi tổ chức rầm rộ, với quy mô lớn nhỏ khác nhau nhưng đều có điểm chung là hoành tráng. Tuy vậy, dễ nhận thấy, các hoạt động này thường chỉ dừng lại ở tính hình thức mà chưa đi vào thực chất. Ít có chàng trai nào tặng hoa, quà cho người yêu mà sau đó sẽ thành tâm nói đến chuyện bình đẳng giới thật sự. Không có ý quy chụp, nhưng rõ ràng, nam giới Việt Nam vẫn ít nhắc đến chuyện bình đẳng giới một cách bền vững, lâu dài. Sau 8/3, mọi chuyện lại đâu vào đấy, các bố các anh lại tiếp tục đi nhậu, lại tiếp tục lo lắng "chuyện đại sự quốc gia" và thây kệ, phó mặc "mớ công việc gia đình con cỏn" cho các mẹ, các chị. Truyền thông hết mực tôn vinh người phụ nữ, các bản nhạc bài thơ hết mực tôn vinh người phụ nữ, nhưng thực tế thì sự bất bình đẳng giới chẳng thay đổi được bao nhiêu. Người phụ nữ Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với đầy rẫy những bất công.

Theo các thông kê chưa đầy đủ, hiện nay, ở nước ta, phụ nữ chiếm 51% lực lượng lao động và đóng vai trò chính trong công việc gia đình và nuôi dạy con cái. Hãy chia sẻ với họ những khó khăn trong công việc và gia đình, làm những điều khiến họ hạnh phúc hơn là những lời lẽ sáo rỗng, hơn là những bông hoa được tặng chỉ nở  và có ý nghĩa trong một ngày duy nhất. Hãy để sự bình đẳng giới đi vào thực chất hơn, đời hơn...

Xuân Tiến

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

Hội thảo cuộc đời và sự nghiệp GS.NGND. Hoàng Như Mai

Sáng nay (22/11/2014), tại Hội trường D, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP.HCM, trường này sẽ phối hợp trường ĐH Văn Hiến, trường ĐH Sài Gòn, Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TP.HCM tổ chức Hội thảo “Cuộc đời và sự nghiệp GS.NGND. Hoàng Như Mai”.

GS.NGND. Hoàng Như Mai là một trong số người hiếm hoi thuộc lớp trí thức trước Cách mạng tháng Tám còn theo đuổi nghiệp dạy văn chương cho đến tận cuối đời. Ông là nhà nghiên cứu văn học, nhà hoạt động văn hóa, nhà thơ, kịch tác gia, là thầy của nhiều thế hệ trí thức và giảng viên đại học ngành ngữ văn. Năm nay, nhân dịp giỗ đầu GS, Hội thảo “Cuộc đời và sự nghiệp GS.NGND Hoàng Như Mai” dịp để các nhà nghiên cứu, bạn bè, đồng nghiệp, học trò đánh giá lại sự nghiệp cũng như ôn lại những kỷ niệm mà GS đã để lại qua các bài viết nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp nghiên cứu văn học, hoạt động văn hóa, giáo dục và sáng tác thơ, kịch...   

Sau diễn văn khai mạc của TS. Nguyễn Khắc Cảnh (Phó Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH&NV), phát biểu ý kiến của PGS.TS. Trần Văn Thiện (Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Hiến), phát biểu ý kiến của lãnh đạo thành phố sẽ là phần tham luận của PGS.TS. Võ Văn Nhơn, của PGS.TS. Trần Hữu Tá, NSND Bạch Tuyết, nhà văn Nguyễn Ngọc Ký, PGS.TS. Nguyễn Thành Thi, TS. Hồ Quốc Hùng và đại diện gia đình GS Hoàng Như Mai.      

Nhân dịp này, Hội thảo cũng giới thiệu sách “GS.NGND. Hoàng Như Mai với đồng nghiệp và môn sinh”. Trong bài viết “Đưa tiễn Thầy Hoàng Như Mai”, GS. Huỳnh Như Phương chia sẻ: thầy Mai “là người nhập thế”, “những ai ở gần thầy Mai đều luôn có cảm giác được xốc dậy về tinh thần”. Trả lời trong một bài phỏng vấn của PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân, GS. GS-NGND Hoàng Như Mai cho rằng: “Người thầy cần tự học, tự đào luyện, nỗ lực gấp nhiều lần thì học sinh sinh viên ta mới không thiệt thòi”. NGƯT Nguyễn Ngọc Ký trong bài viết của mình thì có đoạn: “Cuộc đời tôi may mắn được nhiều người yêu thương, giúp đỡ. Và nếu không có GS Hoàng Như Mai thì sẽ không có Nguyễn Ngọc Ký của ngày hôm nay”. Trong bài viết “GS Hoàng Như Mai và những nhân vật văn hoá Việt Nam”, nhà thơ - nhà báo Phan Hoàng đã đúc kết: “Không chỉ những vấn đề lớn lao, mà trang viết của thầy còn lôi cuốn, gợi cho người đọc nhiều cảm xúc suy tư về những tình cảm gần gũi thân thương”.

Đặc biệt, sách cũng giới thiệu lại bài viết ngắn của ông Nguyễn Phú Trọng, nguyên chủ tịch Quốc hội nước CHXNCN VN gửi đến GS Hoàng Như Mai nhân dịp trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP.HCM và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TP.HCM tổ chức lễ mừng thọ GS Hoàng Như Mai tròn 90 tuổi vào năm 2008.

Bìa sách GS.NGND. Hoàng Như Mai với đồng nghiệp và môn sinh

Bên cạnh đó, sách còn có các bài viết đáng chú ý khác như: Cây đại thụ của nền giáo dục, văn hóa Việt Nam (Bùi Mạnh Nhị), Hoàng Như Mai – một nhân cách giáo dục văn hoá cao quý (Đoàn Trọng Huy), GS.NGND. Hoàng Như Mai: Một đời vì giáo dục (Gia Khánh), Cuộc đời miệt mài với công việc của GS Hoàng Như Mai (Hải Duyên), Vần thơ cuộc đời, gắn liền với một nhà giáo (Hoàng Hữu Quế), Một đời làm thầy, 6 lần làm hiệu trưởng (Hữu Đạt), GS.NGND Hoàng Như Mai, một đời tỏa sáng (Lê Sỹ Tứ), Giáo sư ngữ văn hàng đầu (Nguyễn Bùi Vợi), GS. Hoàng Như Mai - nghệ sĩ trên bục giảng (Phùng Hiệu, Nguyễn Tý), GS.NGND Hoàng Như Mai: Yêu nước và lãng mạn - đôi cánh đưa tới bầu trời văn chương (Vũ Xuân Hương)…

Sau khi GS.NGND Hoàng Như Mai mất, theo tâm nguyện của ông, đại diện gia đình đã trao tặng hơn 2.200 đầu sách của cố GS và gói học bổng trị giá 100 triệu đồng cho trường Đại học Văn Hiến. Trường này đã thành lập Tủ sách Hoàng Như Mai (trực thuộc thư viện trường) để phục vụ đông đảo sinh viên. Đây là các đầu sách được thầy chắt chiu, tích cóp khá công phu, được xem là những tư liệu quý, rất có ích cho sinh viên ngành văn học nói riêng và các chuyên ngành khác thuộc khối ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung. Quỹ học bổng Hoàng Như Mai sẽ dành cho các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đạt thành tích cao trong học tập. Gói học bổng được trao trong 5 năm, mỗi năm 10 suất (mỗi suất 2 triệu đồng).


Lễ tiếp nhận sách và học bổng GS.NGND. Hoàng Như Mai

Thực hiện: Xuân Tiến

Bài viết đã đăng trên trang Văn hóa của Báo Công an TP.HCM số ra Chủ nhật, 22/11/2014, Website Hội Nhà văn TP.HCM, Website Khoa Văn học và Ngôn ngữ (Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP.HCM)...

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

Thơ Haiku: một sơ ngộ đã khởi lên ân tình

Ngày 24/6/2014 tới đây, Câu lạc bộ Haiku Việt TPHCM (CLB Haiku Việt đầu tiên tại Việt Nam, trực thuộc Hội hữu nghị Việt – Nhật TPHCM) sẽ tròn bảy năm thành lập. Chúng tôi đã có buổi phỏng vấn nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu (cố vấn chuyên môn của CLB) về thơ Haiku và vấn đề dịch thơ Haiku ở Việt Nam hiện nay.
Thưa ông, từ 1975 đến nay, ông được biết đến như là người đi đầu trong việc nghiên cứu và dịch thơ Haiku tại Việt Nam. Tại sao ông lại đặc biêt quan tâm đến thể thơ này?
Trong thơ ca thế giới, thơ Haiku là một hiện tượng nổi bật. Vì quá ngắn gọn. Vì rất hình ảnh. Vì đầy thiền vị. Vì thể hiện nhịp điệu vũ trụ. Vì rất tinh tế. Chính vì thế, lần đầu gặp thơ Haiku, tôi đã ngạc nhiên và hạnh phúc. Một sơ ngộ đã khởi lên ân tình giữa thơ Haiku và tôi. Từ đó, tôi theo đuổi thơ Haiku; đồng thời, với theo đuổi những áng thơ và văn kỳ tuyệt của nhân loại.
Tôi vốn thích những gì thanh đạm, trầm lắng mà đầy bao dung. Điều đó, tôi tìm thấy trong thơ Haiku. Thơ Haiku đã đi đến tinh thần tuyệt giản nhưng lại không có gì gợi mở như nó. Dường như, nó không mang một ý nghĩa gì, và chính vì thế, nó có thể được làm đầy bởi biết bao ý nghĩa. Nó là những công án sống động, và dễ dàng đi vào trong tâm hồn ta như một người khách mà ta âm thầm chờ đợi tự kiếp nào.
Thơ Haiku nắm bắt một khoảnh khắc độc sáng nào đó trong cuộc đời từ linh cảm của người thơ. Đó là cái nhìn có một không hai của người thơ. Thơ Haiku là cái nhìn, một cái nhìn vừa thuộc về cá nhân, vừa thuộc về linh hồn của đời sống. Không có cái nhìn kỳ diệu ấy không có thơ Haiku. Vì vậy, niềm quan tâm của tôi đối với thơ Haiku là tình yêu. Và tình yêu bắt đầu từ cái nhìn. Với tôi, thơ Haiku là tự do vô hạn mà một giọt sương có thể có được. Và như một thói quen, không thể thiếu Haiku như không thể thiếu những giọt sương.


Nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu
và tác giả Xuân Tiến tại buổi phỏng vấn

Với tình yêu dành cho Haiku sâu sắc như vậy, ông đã dịch thơ Haiku như thế nào? Và quan niệm của ông về dịch thơ Haiku?
Trước tiên là dịch thơ nói chung. Người ta luôn cho rằng, thơ thì không thể dịch. Nhưng nói vậy, có nghĩa là không nói gì hết. Vì thơ vẫn được phiên dịch khắp thế giới và chuyển ngữ thơ đã kéo dài từ xa xưa đến tận bây giờ và mãi mãi.  
Dịch thơ cũng giống như mọi công việc khác. Có hay và có dở, thế thôi. Đôi khi, bản dịch hay hơn nguyên tác. Và cái đôi khi này không hề hiếm hoi như người ta vẫn tưởng. Vậy thì, không cần phải dị ứng với dịch thơ. Không cần phải cao đạo để nói rằng chỉ nên đọc nguyên tác. Ai biết tất cả mọi ngôn ngữ trên đời này để đọc các nhà thơ lớn trong nguyên tác. Và nếu không được như thế thì ta chối bỏ những bài thơ tuyệt diệu không nằm trong ngôn ngữ mà mình đọc được ư? Không đọc Homer, Bashô, Vương Duy, Rilke, Rimbaud… hay sao?
Vậy thì phải dịch thơ thôi. Theo tôi, một bài thơ dịch hay thì đó là một bài thơ hoàn chỉnh không cần phải liên hệ đến nguyên tác mới hiểu hoặc mới cảm được. Có nghĩa là người dịch cũng là một nhà thơ. Lúc đó thì việc dịch đồng hóa với việc sáng tác. Cái khó ở đây chính là sáng tác về phương diện ngôn ngữ, còn phần hồn của nguyên tác phải được sống lại trong hóa thân ngôn ngữ mới. Cho nên, một bản dịch thơ tuyệt vời là hai lần sáng tạo! Mặc cho thiên hạ tha hồ cãi nhau về chuyện có thể dịch thơ hay không, chúng ta vẫn tiếp tục đọc Homer và những nhà thơ lớn khác trong bản dịch.
Trở lại vấn đề dịch thơ Haiku thì phải nói ngay rằng ngôn ngữ thơ Haiku là thứ ngôn ngữ hình ảnh. Dịch Haiku là tái hiện hình ảnh đó một cách sống động nhất. Ta không cần quan tâm đến vần điệu, đối ngẫu, niêm luật như trong thơ Đường. Bởi vì, thơ Haiku không có những thứ đó. Và chính vì vậy mà nó mới phổ biến trong mọi thứ ngôn ngữ như ta thấy hiện thời.
Đọc Haiku là phải nhìn thấy lập tức hình ảnh của khoảnh khắc mà bài thơ vừa chụp được như một nhà nhiếp ảnh tài hoa đầy linh cảm. Thấy được hình ảnh rồi thì chỉ còn tìm cách vận dụng những từ ngữ tinh nhất để “tráng” hình ảnh đó cho sắc nét và tươi mới.
Có một thực tế là việc dịch thơ Haiku ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, quan điểm của ông như thế nào?
Như đã nói, thơ Haiku sống với hình ảnh. Ngôn từ trong thơ Haiku không hề rắc rối, không hề mang tính trang sức, không bao giờ cầu kỳ. Nhưng tại sao thơ Haiku thường bị dịch sai ở Việt Nam mà điển hình là tập thơ Haiku Nhật Bản đồ sộ vừa mới ra mắt gần đây. Theo tôi, đó là vì người dịch không hiểu biết về văn hóa Nhật Bản, không quen với cái nhìn của người Nhật Bản đối với thiên nhiên và sự vật trong đời, tình yêu cái đẹp, tinh thần thiền ẩn khắp nơi trong văn hóa, mỹ học của cái không… Vì thế, hầu như người dịch chỉ bám vào từng từ riêng lẻ. Tệ hơn nữa, khi nào không hiểu thì người dịch sẵn sàng… bịa ra những điều không hề có trong nguyên tác! Cho nên, người ta dễ dàng tìm ra hàng trăm lỗi sai ngớ ngẩn không cách nào biện minh được. Rất tiếc là do thiếu thông tin mà hàng trăm lỗi sai đó vẫn chưa thể được dư luận quan tâm, đặc biệt ta thấy những tờ báo giấy hàng ngày gần như không đả động gì tới.
Ông nghĩ gì về tình hình sáng tác thơ Haiku ở Việt Nam hiện nay, thưa ông?
Chưa bao giờ thể thơ Haiku được quan tâm nhiều như hiện nay. Có thể nói phong trào sáng tác thơ Haiku đang lan rộng khắp ba miền. Đã có nhiều cuộc thi thơ Haiku, nhiều tập thơ Haiku do người Việt sáng tác liên tiếp được ra đời và bước đầu đã cho thấy một cái nhìn Haiku mang bản sắc Việt Nam với đủ thành phần và lứa tuổi. Có nhiều bạn trẻ đã viết những lời bình những bài Haiku đặc sắc, có bạn mới học cấp ba. Điều đó cho thấy, thể thơ Haiku đã nhập tịch Việt Nam. Tôi biết, có nhiều nghi ngại, băn khoăn, thậm chí dè bỉu về hiện tượng mới này. Nhưng hãy nhớ lại phong trào thơ mới 1930 – 1945, với ảnh hưởng rõ rệt của thơ Pháp cũng đã từng bị công kích nặng nề, bị chế giễu thậm tệ. Nhưng rồi, khi những sáng tác mới đạt tới trình độ tinh hoa thì thơ ca Việt Nam vẫn chuyển mình theo đời sống đang trở nên phong phú trong những làn gió, những hơi thở của Đông lẫn Tây.
Bước đầu, khi tiếp xúc với cái gì khác mình thì mặc nhiên không dễ thích nghi. Cho nên, sẽ gặp những phản ứng trái chiều. Vấn đề là người sáng tác thơ Haiku ở Việt Nam bây giờ phải tự tin, vừa thử nghiệm vừa tìm cho ra cách dung hợp tiếng Việt giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh với tinh thần Haiku tinh tế và u huyền. Hy vọng những thành tựu đẹp đẽ sẽ đến với thơ Haiku Việt Nam.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này. Chúc mối ân tình giữa ông và thơ Haiku sẽ nở thêm nhiều những bông hoa tươi thắm.
Thực hiện: Xuân Tiến

Bài viết đã đăng trên trang Văn hóa của Báo Công an TP.HCM số ra thứ ba, 3/6/2014, Website Hội Nhà văn TP.HCM, Website Khoa Văn học và Ngôn ngữ (Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP.HCM)...


Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

“Nhật ký người ở lại”*

Tôi làm thư ký cho bác Sáng một thời gian thì nghỉ… Rồi thời gian lặng lẽ trôi qua… Một chiều tan tầm, chợt hay tin bác mất, lòng chùng xuống xót xa…

Vị “sếp” người Nam bộ
Ngày trước, khi còn là sinh viên đại học, tôi có “tập tành” tham gia viết bài về mảng văn nghệ cho một số báo. Đó cũng là cơ duyên để tôi có cơ hội được gặp gỡ, giao lưu với nhiều văn nghệ sĩ. Trong đó, có lẽ người mà tôi may mắn được tiếp xúc trong quãng thời gian đủ lâu để lưu lại những ấn tượng sâu đậm chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Lúc bấy giờ, được các anh chị phóng viên cho biết anh Dũng (tức đạo diễn Nguyễn Quang Dũng) đang tìm thư ký cho ba anh ấy, tôi lấy làm phấn khởi trong lòng. Hẳn là phải may mắn và vinh dự lắm mới được làm việc cùng với cha đẻ của Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng, Cánh đồng hoang, Con mèo của Foujita,… Tôi liền tìm cách liên lạc và đánh bạo gọi cho bác Nguyễn Quang Sáng. Nhanh chóng, tôi nhận được cái hẹn từ bác để trực tiếp trao đổi xem có hợp với công việc hay không. Tư gia của nhà văn Nguyễn Quang Sáng ở ngay ngã tư một khu phố, khung cảnh yên bình nhờ bóng cây sa-kê phủ rợp (sau này, bác gái hay kêu tôi đem lá sa-kê về pha nước uống cho mát). Sau cuộc “phỏng vấn” ngắn, tôi chính thức được bác nhận làm công việc thư ký. Cuộc gặp gỡ đầu tiên ấy ghi lại trong tôi những cảm xúc khó tả. Nhớ dạo ấy, tôi hay gọi điện về khoe với ba mẹ, không ngờ một vị Tổng Thư ký Hội Nhà văn Thành phố ngày nào lại có diện mạo gần gũi, thái độ thân tình như vậy. Dường như, chính thời gian đã đi qua những khốc liệt của chiến tranh, những gầm rú kinh hoàng của bom đạn đã giúp những người cầm bút như bác Sáng có được sự điềm đạm và tĩnh tại trong cuộc sống thường nhật ở thời bình. Bác ít nói những câu xã giao như mọi người hay dùng. Bác thường nói xuề xòa, ngắn gọn và đơn giản. Bản thảo bác viết, câu chữ không cầu kỳ, không dụng công với kỹ thuật văn chương nhưng cuốn hút sống động. Tôi có cảm giác, sau mỗi câu nói, sau mỗi lời văn, tâm thế của bác đều an nhiên nhẹ nhàng. Sau này, khi viết báo, tôi vẫn thường cố gắng học tập cách hành văn mộc mạc, chắc nịch này của bác.

Tôi không biết uống rượu, nên chỉ có thể chỉ hầu trà bác mỗi buổi sáng đến làm. Có lần tôi hỏi, gốc người miền Nam sao bác lại nghiện trà Bắc? Bác nói liền, thì lỡ nghiện nó từ cái hồi ở Hà Nội mà. Vậy là, mỗi sáng trên chiếc bàn bên khoảnh sân nhỏ trước nhà, lại có một nhà văn già lặng lẽ ngồi với làn khói thuốc mỏng mảnh bên chén trà ấm, và một cậu sinh viên trẻ háo hức với công việc mới. Nhiều hôm hứng khởi, hai bác cháu ra quán café gần nhà. Bác châm điếu thuốc. Lâu lâu kể về quê hương An Giang, về miệt Đồng Tháp Mười, về hồi còn ở 62 Nguyễn Văn Đậu, về thời nghiên cứu đạo Hòa Hảo, về số phận long đong của tiểu thuyết Đất lửa lúc mới in… Nhất là kế hoạch làm mấy chục tập phim Khoảnh khắc Võ Văn Kiệt và cả chuyện phim tài liệu Ấn tượng Võ Văn Kiệt làm rồi nhưng chưa chiếu vì “ông Kiệt ổng cản” (bác Sáng cùng đạo diễn Lê Văn Duy thực hiện lúc Thủ tướng Võ Văn Kiệt còn sống). Mình lặng nghe. Cảm nhận tuy bác đã yếu, dáng đi đã chậm nhưng bác vẫn minh mẫn và tràn đầy nhiệt huyết. Để ý khi nào thấy bác ít trầm ngâm suy tư, mình tranh thủ hỏi thêm về các sáng tác của bác, về nhân duyên đến với nghề viết kịch bản. Hôm nào bác có độ nhậu trưa ở bên quận 3, biết tôi không uống rượu, bác cho tôi nghỉ sớm. Lúc đó, bác gái hay giữ tôi lại ăn chuối chiên, tàu hũ nóng và trò chuyện. Tuy trí nhớ đã kém phần tinh tường, nhiều chuyện đã kể rồi thường hay nhắc lại, nhưng giống bác Sáng, bác gái cũng cho mình cảm giác gần gũi và thân thiện với nhiều tâm sự về cuộc sống hằng ngày nhẹ nhàng, bình dị.

Ngoài công việc chính là giúp bác Sáng đánh máy, chỉnh sửa bản thảo, có nhiều hôm, tôi còn giúp bác tìm lại hồ sơ giấy tờ hoặc dọn dẹp, phân loại tủ sách của bác. Chủ yếu là sách văn chương nhiều thể loại, nhiều tác giả, nhiều thời kỳ… Bác nói, may mà tôi là dân văn nên cũng biết cách phân loại sách để theo từng khu vực. Bác cũng nhờ tôi sắp đặt nhiều đồ lưu niệm, kỷ vật trong phòng. Nhớ có lần, bác Sáng chỉ vô hai pho tượng, một là tượng chân dung bác (có người bạn làm tặng), hai là tượng bác gái (bác Sáng đặt làm thêm) và chia sẻ, nguyện vọng của bác sau khi mất là được hỏa táng, rồi để cốt vào tượng để ở nhà vừa không phiền toái chuyện chôn cất vừa đỡ phần con cháu cất công thăm viếng xa xôi. Giờ nhớ lại những ký ức đó, tôi không khỏi chạnh lòng.


Tác giả Xuân Tiến và nhà văn Nguyễn Quang Sáng lúc sinh thời

“Hồi ký” còn dở dang
Năm 2008, khi trả lời phỏng vấn của anh Thất Sơn về việc viết hồi ký, bác Sáng cho biết bác chỉ thích đọc hồi ký của người khác chứ không muốn viết. Nhiều lần nhà thơ Lê Minh Quốc, nhà báo Trần Thanh Phương cũng gợi ý tác giả kịch bản Cánh đồng hoang viết hồi ký nhưng bác Sáng đều từ chối với ý nghĩ đã viết thể loại này thì phải trung thực. Nhưng có biết bao lý do mà dễ có mấy ai kể đúng về mình trăm phần trăm. Mà ngẫm ra, hồi ký, ký ức của bác đã nằm rải rác trong các tác phẩm gửi đến bạn đọc rồi. Nhất là trong cuốn Nhà văn về làng (xuất bản năm 2008), cha đẻ của Chiếc lược ngà đã gợi nhiều kỷ niệm về các thân hữu như Trịnh Công Sơn, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Hồng Sến, Lê Giang… Đó là suy nghĩ, là tâm niệm của bác Sáng mà nhiều người đều biết đến qua báo chí, qua bè bạn.

Tuy vậy, trong thời gian tôi làm thư ký cho bác, ngay buổi đầu tiên (và một vài buổi sau nữa), công việc của tôi là giúp bác ghi lại một cuốn sách có tựa là Chuyện đời nhớ lại kể nghe chơi, một dạng gần như hồi ký.

Sau nửa buổi trò chuyện, hỏi thăm về thân thế, quê quán, việc học hành của tôi, bác tâm sự đôi chút về công việc mà tôi sẽ làm cùng bác. Thật lòng mà nói, lúc đó tôi đang say sưa trong cảm giác vui mừng. Không chỉ được ngồi đối diện, mà tôi còn vinh dự được làm việc cùng với nhà văn lớn Nguyễn Quang Sáng. Tôi vẫn nghe nhưng phần nhiều hơn là chú tâm quan sát bác. Nhưng giờ thì, từng lời nói của bác lúc ấy như vẫn như còn vương vấn đâu đây. Bác nói, bác định tìm một cô thư ký thì phù hợp hơn nhưng thấy tôi là con trai mà học ngành văn chương, lại nói năng hiền lành, coi như cũng có duyên có nghiệp. Công việc thì có lúc vui lúc nhạt vì liên quan đến đánh máy, soạn thảo nhưng đã làm thì sẽ dần quen và gắn bó. Tôi dạ dạ vâng vâng, lật đật mở laptop ra. Bác tâm sự lại về việc không viết hồi ký như tôi vừa kể ở trên. Thế rồi, vừa nhấp một ngụm trà ấm, ở chỗ chiếc bàn ngoài hiên nhà, bác bảo tôi đánh máy bài đầu tiên với nhan đề “Chuyện đời nhớ lại, kể nghe chơi”. Bác đọc từng chữ và tôi gõ từng chữ: “Tôi có ý muốn viết những trang hồi ký chuyện đời nhớ lại, kể nghe chơi. Đây đều là những câu chuyện đời thực, đầy ắp những kỷ niệm của tôi mà khi nghĩ lại, tôi đều cảm thấy hứng thú. Có vài chuyện cũng đã được tôi đưa vào các tiểu thuyết…”. Và cứ thế, bác trầm ngâm theo làn khói thuốc, vừa chiêm nghiệm những khoảnh khắc đời mình, vừa nhắc nhớ nó ra bằng lời.

Những dòng tâm sự như “có thể chưa báo chí nào biết cái tên Nguyễn Quang Dũng chính là do anh ruột của nó đặt”; hay chuyện “thằng Quang có lần đi thi toán giúp bạn học” bị nhà trường phát hiện; chuyện “thằng Quang thiết kế căn nhà này”;… được bác lần hồi nhớ lại. Bác Sáng cũng kể nhiều về người bạn thân thiết Trịnh Công Sơn. Đặc biệt là mối thân tình và sự giao cảm của nhạc sĩ họ Trịnh với anh Dũng. Từ việc mua tặng đàn mandolin Nga, sáng tác bài Mẹ đi vắng dựa theo “mấy câu nói ngây thơ của thằng Dũng”, giới thiệu cô giáo dạy thêm nhạc lý, đàn organ, viết lời giới thiệu tập nhạc đầu tiên đến chuyện ông khuyên: “Nếu học nhạc thì không thể học điện ảnh được, mà học điện ảnh thì vẫn có thể học thêm âm nhạc ở ngoài được”, anh Dũng nghe vậy tâm đắc, quyết định đi học điện ảnh. Những tâm sự đó, tôi đã xin phép bác Sáng được kể lại cho đông đảo bạn đọc cả nước được biết qua bài báo “Nhà văn Nguyễn Quang Sáng và những kỷ niệm với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn” đăng trên báo Sài Gòn giải phóng số ra thứ Ba, ngày 03/04/2012. Ngoài nhạc sĩ họ Trịnh, bác Sáng cũng kể nhiều kỷ niệm với các bằng hữu khác như: Chuyện về thằng em Quốc Việt; Kỷ niệm với đại tá công an Nguyễn Quyền Sinh; Về hãng phim Teleza của cô giám đốc Bùi Thị Thanh Nga; Nhạc sĩ Lê Thương với ba bài Hòn Vọng Phu; Nhớ người anh Huỳnh Văn Tiểng... Đặc biệt là Về nhà thơ Hoàng Yến (người từng phụ giúp cho đại tướng Nguyễn Chí Thanh trong những ngày đầu kháng chiến) khi nhà thơ vừa mất cách đó hơn một tháng. Bác Sáng ngậm ngùi trong những dòng cảm xúc cứ dâng trào Lúc đó, tôi tự hỏi, có lẽ đằng sau sự mạnh mẽ, lạc quan của bác chính là những nỗi niềm man mác khi chứng kiến những chiến hữu, những người bạn tâm giao, hoặc thân tình hơn là những người bạn nhậu lần lượt ra đi về một miền miên viễn. Những trang hồi ức ấy vẫn còn dang dở vì thời gian sau bác muốn tôi ghi lại giúp bác thành từng bài ngắn về từng bạn bè.

Kịch bản sân khấu chưa hoàn thành
Bạn đọc các thế hệ thường bị cuốn hút bởi những trang văn rất đỗi dung dị, thắm đượm tình quê của tác giả Mùa nước nổi. Tôi cũng vậy. Trong quá trình làm thư ký cho bác Sáng, tôi hiểu được rằng, chính vì đi nhiều, chứng kiến nhiều, lại biết lắng nghe và cảm nhận nhiều bằng chính trái tim luôn hòa cảm với cuộc sống mà bác Sáng đã tạo nên những tác phẩm văn chương rất đời. Vậy mà còn nhiều trang văn, trang đời chân thật, hồn hậu, đầy nghĩa khí như đất và người Nam bộ ấy vẫn chưa được hoàn thành.

Ngoài Chuyện đời nhớ lại, kể nghe chơi, bác Sáng còn dang dở một số bài như: Những kỷ niệm về Văn Cao; Chuyện ông Mười Đờn; Chuyện về Frank Greke (một người Đức, vì mê nhạc Trịnh và mê uống rượu với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà lấy tên Việt là Trịnh Công Long; bài này dang dở với câu cuối cùng là: “Bữa nay, chỉ nhớ một vài điều của Long”); Kỷ niệm với nhạc sĩ Tôn Thất Lập… Đặc biệt là truyện Buồn buồn vui vui (câu chuyện thấm đượm nỗi buồn về những bước đường gian truân của nhiều số phận cô gái miền Tây) và kịch bản sân khấu Nhà vua nước nhỏ. Những dòng đầu của kịch bản Nhà vua nước nhỏ, bác Sáng tâm sự: “Lâu nay mình ấp ủ một kịch bản sân khấu (...) Mình đang suy nghĩ sẽ hợp tác viết với tác giả nào, nhà hát nào. Mình vẫn chưa nghĩ ra một người nào chắc chắn vì còn nhiều băn khoăn. Liệu họ có đồng tình với mình hay không? Có dám xông vào đề tài gai góc hay không?”. Rồi sau hai trang A4 kể sơ về cốt truyện và định hình một số màn, cảnh, bác kêu tôi viết: “Đại khái câu chuyện là như vậy, khi viết kịch bản sẽ triển khai chi tiết và cụ thể hơn”. Nhưng giờ thì có lẽ vở kịch ấy sẽ mãi mãi không thể ra mắt công chúng.

Con đường kỷ niệm
Tôi làm thư ký cho bác Sáng một thời gian thì nghỉ. Một phần vì tôi bắt đầu đi vào chặng đường những năm cuối đại học, một phần vì bác bận bịu đi các tỉnh miền Tây để tìm cảm hứng, tìm cảnh quay cho phim về Võ Văn Kiệt. Bác nói, khi nào cần người giúp tiếp thì sẽ gọi cho tôi. Tôi dạ và hy vọng rồi sẽ có dịp lại được tiếp tục công việc ý nghĩa này. Rồi thời gian lặng lẽ trôi qua. Tôi tiếp tục học, tốt nghiệp rồi làm cộng tác viên cho báo Công An Thành phố, một thời gian sau lại về công tác tại trường Đại học Văn Hiến...

Một chiều tan tầm, chợt hay tin bác mất, lòng chùng xuống xót xa…

Hôm đi viếng bác về, trùng hợp tôi lại có công việc ở quận 9, nơi tôi từng ở trọ suốt thời sinh viên. Vừa chạy xe, vừa bùi ngùi nhìn cảnh vật hai bên xa lộ Hà Nội, bao nhiêu kỷ niệm lại ùa về. Mới ngày nào, sau cả tuần trên giảng đường, đến sáng thứ Bảy, Chủ nhật, tôi lại đi trên con đường này để từ quận 9 sang nhà bác ở quận 7 để giúp bác viết bản thảo. Những buổi sớm mùa xuân. Gió nhẹ nhàng thổi. Từng làn nắng vừa lên. Dòng xe bon bon trên cung đường tỏa rộng. Điểm đến là nhà của một nhà văn Nam bộ hiện đại tiêu biểu mà văn chương của ông đã đi vào lòng biết bao thế hệ bạn đọc. Tất cả cảm giác đó khó có thể diễn đạt sao cho tròn vẹn. Nó như vừa mới hôm qua. Vậy mà hôm nay, tôi vừa đưa tiễn bác…
Sài Gòn, tháng Hai 2014


* Mượn tên một tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Bài viết đã in trên Báo Mực tím số đặc biệt cuối tháng tháng 3/2014 và sách Nguyễn Quang Sáng – văn và đời, NXB Văn hóa Văn nghệ, 2015, trang 147-154.


Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Học giả An Chi: Cả đời rong chơi cùng chữ nghĩa

Xuân Tiến

Một buổi sớm mai Sài Gòn, tôi lần đầu tiên tìm đến thăm ông An Chi, học giả từng được nhà thơ Phan Hoàng mệnh danh là "người làm rúng động nền học thuật nước nhà". Trong lòng không khỏi bồi hồi khó tả, vì thật tâm mà nói thì tôi còn quá trẻ để đàm đạo với một học giả uyên bác như ông. Chỉ e sợ lát nữa đây, mình không biết sẽ phải hầu chuyện với ông như thế nào cho phải lẽ. Nhưng tất cả những lo âu đó dường như tan biến khi tiếp chuyện tôi là một người đứng tuổi nhưng nhanh nhẹn, thân thiện. Ông niềm nở chào đón, thân tình tâm sự với tôi về chuyện đời, chuyện nghề, và chia sẻ với tôi những niềm vui giản dị hàng ngày.

Tác giả Xuân Tiến và học giả An Chi

Chữ nghĩa với duyên và nợ
Cái tên An Chi từ lâu đã gắn bó với chuyên mục Chuyện Đông Chuyện Tây nổi tiếng một thời trên tạp chí Kiến thức ngày nay. Theo như nhận định của nhà báo Lê Khắc Cường (thư ký tòa soạn Kiến thức ngày nay vào thời điểm đó) thì trong suốt 16, 17 năm tồn tại, chỉ có 2, 3 lần gì đó là không có bài để đăng. Bởi học giả An Chi là người rất nghiêm túc nên ngay cả khi trái gió trở trời, ông vẫn cố để bạn đọc của mình không bị mất hứng khi lật trang 33 mà không thấy Chuyện Đông Chuyện Tây.
Lần vắng bóng Chuyện Đông Chuyện Tây lâu nhất là 5 kỳ trong 3 tháng 8, 9, 10 năm 1993, đó là một tai nạn nghề nghiệp mà mọi người biết chuyện đều cảm thấy tiếc cho ông. Nhưng có lẽ, không có tai nạn ấy thì có lẽ đã không có cái tên An Chi ra đời. Vì thời gian đầu, chuyên mục Chuyện Đông Chuyện Tây do ông phụ trách, ông ký tên với bút danh là Huệ Thiên (đọc lái tên thật Thiện Hoa của ông). Cái tên An Chi chỉ xuất hiện sau tai nạn về chuyện giải nghĩa một câu đối.
Ông An Chi vẫn còn nhớ những khiếu nại, kiện cáo từ phía bên kia đã gây không ít sóng gió cho Kiến thức ngày nay vào thời gian đó. Chỉ vì một đôi câu đối (được nhiều người truyền tụng) mà Ban Tuyên huấn và Sở Văn hóa - Thông tin TP.HCM đã chỉ đạo Hội Nhà văn TP.HCM đến họp với Ban Biên tập Kiến thức ngày nay và đương sự để kiểm điểm.
Đại diện Hội Nhà văn TP.HCM khi ấy là nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhà văn Anh Đức và nhà thơ Phạm Sỹ Sáu đã đến tòa soạn họp với Ban Biên tập và đương sự là tác giả Huệ Thiên. Kết thúc cuộc họp là bản kỷ luật dành cho ông: "Tác giả Huệ Thiên ngưng phụ trách mục Chuyện Đông Chuyện Tây một thời gian. Đồng thời, Kiến thức ngày nay cũng phải đăng lời xin lỗi bà K.H trên tạp chí của mình và báo Tuổi trẻ. Việc dàn xếp cái kỳ án ấy cũng khéo léo chẳng thua kém gì như những chuyện ngoại giao thế giới, khi mà nó liên quan đến nhà báo K.H lúc ấy đang là Tổng biên tập một tờ báo lớn ở TP.HCM".
Sau sự kiện này, Ban biên tập, mà thực ra, có lẽ là chủ báo, vì mê Kim Dung, nên đã chọn cho Huệ Thiên cái bút danh mới là Lão Ngoan Đồng (nhân vật trong Anh hùng xạ điêu) còn Huệ Thiên thì cứ muốn y chang nên đã tự mình chọn cái tên An Chi. (Ngoài ra, An Chi còn là chữ trong câu Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi - người già sống an phận, nào dám chọc ai). Và thế là bắt đầu trên số 122 ra ngày 01/11/1993, cái bút hiệu An Chi mới toanh đã xuất hiện để ký tên cho mục Chuyên Đông Chuyện Tây.
Giờ đây, sau mười mấy năm gắn bó, ông An Chi không còn cộng tác với Kiến thức ngày nay, nhưng độc giả vẫn có thể tìm thấy những luận giải mới, những kiến thức mới của ông trên mục Những điều có thể bạn chưa biết của tạp chí Năng lượng mới. Đó lại là mối cơ duyên khác của ông với tổng biên tập Nguyễn Như Phong. Ông Phong vốn trước làm phó tổng biên tập báo An ninh thế giới. Khi ấy, ông Phong thường xuyên mời ông An Chi viết bài cộng tác và có nhiều câu hỏi rất thú vị để An Chi trả lời bạn đọc thường xuyên trên các số báo. Thế rồi, khi Báo Năng lượng Mới ra đời, tổng biên tập Nguyễn Như Phong mời ông An Chi về phụ trách chuyên mục Những điều có thể bạn chưa biết. Một hành trình chữ nghĩa nữa của học giả An Chi lại bắt đầu.
Trên tờ Năng lượng mới số ra ngày 31/08/2012, ông An Chi có viết bài Những nhầm lẫn chung quanh bức ảnh đặc biệt về Cụ Hồ và Đại tướng. Như ông đã khẳng định, mục đích cuối cùng của bài viết là đi đến tận cùng của vấn đề truy nguyên. Qua đó, gợi lên thái độ thận trọng và phương pháp quan sát thực sự khoa học khi đứng trước một hiện vật khách quan. Cũng như hầu hết những bài viết khác của ông, bài viết này lật lại vấn đề của một sự việc mà dường như mọi người đều mặc nhiên công nhận bởi sự khẳng định của những người có tên tuổi. Thế nên, bài viết cũng còn nhận lại nhiều phản hồi nghi ngại và e dè. Tuy nhiên, bài viết cũng đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ những bạn đọc thật tâm với sự nghiên cứu. Với ông, thái độ tiếp nhận ấy từ bạn đọc cũng là một niềm vui.

An lạc giữa đời thường
Hiện tại, ông An Chi sống cùng vợ và một cô cháu gái từ quê lên giúp đỡ (vì hai ông bà cũng đã lớn tuổi) trong một ngôi nhà nhỏ ở quận Bình Thạnh. Hằng ngày, ông vẫn kiên trì với công việc lâu nay là đọc sách, viết lách và nghiên cứu. Chiều chiều, ông lại chú tâm chăm sóc vườn hoa nhỏ trong khoảng sân trước nhà. Để rồi, những phút thăng hoa cùng cuộc sống tuổi già bình lặng, ông mê mẩn đem máy ảnh ra chụp lại khoảnh khắc đẹp nhất của những bông hoa. Ông trân quý chúng tựa như những sinh linh bé nhỏ và có linh hồn. Máy tính của ông giờ đây, đầy những hình ảnh của những bông hoa tỏa hương khoe sắc trong vườn. Để mỗi khi có ai đến thăm, trong câu chuyện trà dư tửu hậu, ông lại mở máy tính ra khoe cùng bạn bè.
Ngoài ra, ông còn có một thú vui ấy là giao lưu với bạn bè khắp nơi qua các trang mạng xã hội, đặc biệt là Facebook. Điều đó, với một học giả đã vào cái tuổi thất thập cổ lai hy như ông, đã khiến cho tôi vô cùng kinh ngạc và cảm phục ông.
Ông chia sẻ: "Thỉnh thoảng rời bỏ sách vở vì chán hay vì mỏi mệt, tôi vào mạng đọc tin tức. Nghe người ta nói nhiều đến Facebook nên thử vào tìm hiểu xem nó như thế nào, rồi thấy hướng dẫn mở một trang cá nhân cũng không khó lắm nên mày mò làm theo. Nếu như Chuyện Đông Chuyện Tây đã đưa đến cho An Chi những người bạn đặc biệt từ bốn phương qua mail, qua thư tay thì Facebook lại đem đến cho học giả có tuổi này gần 120 người bạn trên khắp mọi miền Tổ quốc, kể cả hải ngoại. Ông vui vì thỉnh thoảng có thêm những người bạn mới kết bạn, thỉnh thoảng lại có một bạn trẻ nào đó gõ lên tường của ông, đề nghị ông cho ý kiến về chuyện này chuyện khác mà bạn ấy đang tranh luận với một ai đó nhưng chưa tìm được sự thống nhất. Rồi thỉnh thoảng, một bài viết nào đó của ông được một bạn bình luận hoặc đánh dấu like, ông cảm thấy rất thú vị.
Có thể nói, với công việc hàng ngày, với vườn hoa trước nhà, với mạng xã hội Facebook, ông An Chi vẫn thanh thản sống và làm việc bằng tâm thế, nghị lực và lý tưởng khoa học mà ông đã chọn, mặc cho những thị phi từ những cuộc tranh luận khoa học có thể làm ông thêm nhiều người ghét bỏ.
Khi tôi hỏi ông có biết rằng với bộ sách Chuyện Đông Chuyện Tây, dường như ông đã trở thành một học giả được rất nhiều độc giả trong Nam ngoài Bắc, thậm chí là ở hải ngoại mến mộ, ông An Chi chỉ cười hiền, trả lời đĩnh đạc nhưng rất khiêm nhường. Ông hoàn toàn thật lòng nói chưa bao giờ nghĩ đến điều đó. Ông vẫn nói với nhiều người bạn rằng cái mà ông đã làm chỉ là Chuyện Đông Chuyện Tây để mỗi kỳ giúp vui cho bạn đọc trong chốc lát mà thôi. Rồi ông nhìn ra những chậu hoa xinh xinh ngoài khoảng sân trước nhà và mời tôi cùng ra ngắm hoa, để lại sau lưng những bộn bề được mất của sự đời hơn thua.

Đường đời song hành cùng chữ nghĩa

Nhà nghiên cứu An Chi tên khai sinh là Võ Thiện Hoa, sinh ngày 27/11/1935 tại Bình Hòa, Gia Định (nay là quận Bình Thạnh, TP.HCM). Do những điều kiện lịch sử nhất định mà ông mang quốc tịch Pháp, tên Pháp của ông là Emile Pierre Lucatos. Ông học trường Tây ngày trước, nay là trường Lê Quý Đôn. Tháng 5/1955, ông vượt tuyến ra Bắc đi thanh niên xung phong, học Trường Sư phạm trung cấp trung ương ở Hà Nội, dạy cấp 2 ở Thái Bình, phụ trách thư viện trường Học sinh miền Nam số 8 ở Tam Đảo. Đến tháng 8/1975, ông trở về miền Nam, công tác tại Phòng giáo dục quận 1. Đến năm 1984, ông về hưu non, chuyển sang đọc sách, nghiên cứu. Từ năm 1990, An Chi bắt đầu cộng tác với báo chí, phụ trách thường xuyên các chuyên mục như “Chuyện Đông Chuyện Tây” trên Kiến thức ngày nay, "Từ chữ đến nghĩa" trên Đương Thời, "Có thể bạn chưa biết" trên Năng lượng mới và các báo khác như An ninh thế giới, Người đô thị, Đại học Quốc gia TP.HCM. Ngoài ra, ông đã xuất bản Chuyện Đông Chuyện Tây (6 tập - Nxb Trẻ), Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm (Nghiên cứu - Nxb Trẻ).

Bài đã đăng trên Báo Người đưa tin, Website Hội Nhà văn TP.HCM...